Khu dân cư Miếu Nổi, vì sao khiếu kiện kéo dài?

Những sai phạm của cá nhân, tổ chức trong khi thực hiện dự án khu dân cư Miếu Nổi (TP.HCM) được Thanh tra Chính phủ chỉ ra ở kết luận thanh tra hơn 12 năm qua nhưng vẫn chưa giải quyết dứt điểm.

Toàn cảnh dự án Miếu Nổi sau 21 năm triển khai. ẢNH: ĐỘC LẬP

Trong khi đây, khiếu nại của người dân liên quan đến dự án này vẫn kéo dài hàng chục năm nay.

Tháng 5.2018, UBND TP.HCM báo cáo Thủ tướng về 12 vụ khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài ở TP.HCM, trong đây có dự án khu dân cư Miếu Nổi (P.3, Q.Bình Thạnh) TP đang xử lý. Ngày 15.6.2018, Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình đã yêu cầu 1 vài bộ, ngành, địa phương tự rà soát, phát hiện và báo cáo để Chính phủ tiếp tục có biện pháp xử lý có 12 dự án, trong đây có Miếu Nổi; xử lý nghiêm 1 vài sai phạm kể cả tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp.

21 năm chưa giải tỏa xong mặt bằng

Theo nghiên cứu kỹ của PV Thanh Niên, ngay từ các ngày đầu triển khai dự án, hàng chục hộ dân bị ảnh hưởng cho rằng đất của mình nằm trong ranh quy hoạch dự án Miếu Nổi nên không được cấp giấy chứng nhận quyền có nhà ở và quyền sử dụng đất; không được cấp phép thi công nhà mới, nhà xuống cấp trầm trọng, ở trong cảnh nhà dột nát nhưng phải giữ nguyên tình trạng… nên đã khiếu nại, khiếu kiện kéo dài.

Từ khiếu nại, khiếu kiện của người dân, Thanh tra Chính phủ (TTCP) 2 lần lập đoàn thanh tra dự án và chỉ ra nhiều sai phạm. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình và 1 vài ban ngành T.Ư đã ra 1 vài văn bản chỉ đạo xử lý dứt điểm. Đến nay, ích lợi của người dân mặc dù đã được giải quyết 1 phần, nhiều hộ dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên khiếu nại của người dân vẫn chưa lắng dịu.

Trả lời PV Thanh Niên, lãnh đạo UBND Q.Bình Thạnh cho biết sau 21 năm kể từ ngày có chọn lọc giao đất của Thủ tướng Chính phủ (năm 1997), chủ đầu tư là Công ty đầu tư và phát triển thành thị (thành viên Tổng doanh nghiệp thi công số 1 – Bộ Xây dựng, năm 2004 đã cổ phần hóa thành Công ty cổ phần phát triển thành thị Bình Minh, sau đây đổi tên thành Công ty cổ phần giải đáp đầu tư và phát triển thành thị) chưa thực hiện xong công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng. Công ty này chỉ tập trung đầu tư, khai thác và thu lợi nhuận ở 1 vài khu đất thương mại, nhà ở và 1 vài khu chung cư, trong khi 1 vài công trình phúc lợi công cộng đến nay vẫn chưa thực hiện bồi thường giải tỏa và đầu tư theo đúng quy hoạch. Hệ quả là kết cấu hạ tầng không đồng bộ, không kết nối giao thông khu vực. Việc kéo dài thực hiện dự án Miếu Nổi làm ảnh hưởng đến ích lợi hợp pháp của hàng chục hộ dân trong ranh dự án, làm phát sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài phức tạp.

Tại thời điểm thanh tra năm 2005, TTCP chỉ rõ việc đền bù dân cư, giải phóng mặt bằng có nhiều sai phạm. Việc thu hồi, giải tỏa đất ở diễn ra nhanh hơn có đất sử dụng cho mục đích công cộng. Cụ thể, tổng quy mô đất phải thu hồi đất ở là 83.641 m2 và đã thu hồi được 57.000 m2, đạt 67,98%. Còn quỹ đất sử dụng cho mục đích công cộng là hơn 50.000 m2 nhưng chỉ mới giải tỏa đền bù được hơn 27.000 m2, đạt 54,6%. Phần 45,3% đất công cộng đến nay chưa được đền bù, tái an cư, giải tỏa dẫn đến phá vỡ nguyên tắc thực hiện dự án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ban đầu.

Đáng lưu ý, theo lãnh đạo Q.Bình Thạnh, không chỉ người dân khiếu nại tố cáo kéo dài, mà đến nay Công ty cổ phần giải đáp đầu tư và phát triển thành thị cũng liên tục khiếu nại, tố cáo ông Nguyễn Văn Tùng (nguyên Tổng giám đốc Công ty đầu tư và phát triển thành thị) có các sai phạm gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Liên tục phá vỡ quy hoạch

Theo hồ sơ PV Thanh Niên nắm được, ngày 7.4.1992, UBND TP.HCM có Quyết định số 559 phê duyệt quy hoạch khu nhà ở Miếu Nổi có quy mô 11,6 ha. Ngày 14.6.1994, UBND TP có chọn lọc giao hơn 1,4 ha đất cho Ban Quản lý công trình Miếu Nổi thuộc Q.Bình Thạnh để triển khai thực hiện dự án. Sau thỏa thuận vào ngày 5.3.1993 của UBND Q.Bình Thạnh và Tổng doanh nghiệp thi công số 1, UBND TP.HCM chấp thuận cho Công ty đầu tư và phát triển thành thị thực hiện dự án thay cho Ban Quản lý công trình Miếu Nổi. Tuy nhiên, quy hoạch chi tiết của dự án này được Kiến trúc sư trưởng TP (viết tắt KTST) khi đây là ông Lê Văn Năm phê duyệt ở Quyết định số 215/KTST-QH ngày 8.1.1996 chỉ có quy mô đất là 8 ha; giảm 3,6 ha so có quy hoạch ban đầu được UBND TP phê duyệt, có nguồn gốc 3,6 ha này thuộc Q.Phú Nhuận.

Theo báo cáo nghiên cứu kỹ khả thi dự án do Bộ Xây dựng thẩm định, trình ngày 20.1.1996, được Thủ tướng Chính phủ có chọn lọc phê duyệt 125/QĐ-TTg ngày 5.3.1996, dự án có tổng mức đầu tư 463 tỉ đồng, quy mô 8 ha, vốn do chủ đầu tư huy động, thời gian thực hiện dao động 10 năm. Đến ngày 28.4.1997, Thủ tướng Chính phủ có chọn lọc thu hồi hơn 6,9 ha đất ở P.3 (Q.Bình Thạnh) giao Công ty đầu tư và phát triển thành thị thi công khu dân cư Miếu Nổi để thực hiện dự án.

Ngay sau đây, UBND TP xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ cho cải tạo, sắp xếp, thi công thêm chung cư cao tầng phục vụ tái an cư diện giải tỏa kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè cộng 1 số công trình khác ngân sách TP đầu tư và được miễn tiền sử dụng đất, thuế doanh thu thi công và thuế trước bạ nhà. Ngày 4.1.1998, Thủ tướng Chính phủ có chọn lọc phê duyệt bổ sung có các nội dung này.

Giai đoạn 1996 – 2001, KTST TP đã 4 lần điều chỉnh quy hoạch dự án Miếu Nổi. TTCP nhận định việc thực hiện quy hoạch không nghiêm túc, có nhiều sai phạm; quá trình thực hiện điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, dẫn đến 1 số chỉ tiêu không đạt nguyên tắc theo quy định, như quy mô đất ở theo quy định là 19 – 21 m2/người nhưng thực ở chỉ có 6,83 m2/người; quy mô đất công trình công cộng quy định từ 1,5 – 2 m2/người nhưng thực ở chỉ 1,22 m2/người; quy mô đất cây xanh theo quy định từ 3 – 4 m2/người, thực ở chỉ 1,56 m2/người…

Đáng lưu ý, theo quy hoạch được phê duyệt, dự án có 234 căn nhà liên kế trên quy mô đất hơn 1,9 ha, nhưng thực ở đã tăng lên thành 287 nền có quy mô hơn 2,4 ha. TTCP khẳng định việc điều chỉnh quy hoạch tùy tiện, tăng 27,83% nhưng không báo cáo cấp có thẩm quyền. Bên cạnh đây, TTCP cũng phát hiện số liệu giữa văn bản điều chỉnh quy hoạch có bản vẽ kèm theo không có sự thống nhất. Cụ thể, tổng quy mô đất thực hiện dự án là hơn 8,3 ha, tăng 0,36 ha so có quy mô theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ duyệt, nhưng ở Công văn số 5524/KTST ngày 13.5.1996 của KTST TP không có nội dung nào đề cập việc tăng quy mô đất của dự án.

Kết luận của TTCP đã nhấn mạnh, thực chất quá trình điều chỉnh quy hoạch có tính chất để “hợp thức hóa” cho việc chạy theo mục đích phân phối nền của chủ đầu tư. Bởi có tới 42 nền nhà có quy mô thực ở hơn 3.000 m2 đã được phân phối trước khi có chọn lọc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch của KTST TP. Trong đây có 4 nền lô L ký hợp đồng phân phối năm 1997 nhưng đến 6.10.1998 mới được KTST phê duyệt điều chỉnh.

Việc điều chỉnh quy hoạch của KTST TP cũng có nhiều sơ hở, 1 số nội dung điều chỉnh biểu hiện trong bản vẽ kèm theo nhưng không được ghi trong văn bản phê duyệt điều chỉnh. Tại Công văn số 21 ngày 30.1.1996 của Công ty đầu tư và phát triển thành thị chỉ yêu cầu điều chỉnh 1 số nội dung chung cư 6 tầng lên 18 tầng, nhưng văn bản phê duyệt điều chỉnh của KTST TP theo Công văn số 5524/KTST-QH ngày 13.5.1996 cho phép điều chỉnh 4 nội dung khiến 1 vàih tân quá nhiều so có quy hoạch ban đầu…

TTCP khẳng định công tác lập, thẩm định, thực hiện quản lý quy hoạch bị buông lỏng biểu hiện sự yếu kém rõ rệt. Ngoài ra, trước mỗi lần điều chỉnh quy hoạch Văn phòng KTST không kiểm tra tình hình thực hiện quy hoạch làm căn cứ để tham khảo việc điều chỉnh, nên không phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót trong thực hiện quy hoạch, dẫn đến quy hoạch bị phá vỡ so có mục tiêu ban đầu đề ra; tạo điều kiện cho chủ đầu tư vi phạm quy hoạch.


Canhoorchidpark.org – Theo Thanh niên

Tìm hiểu thêm tài liệu về dự án Orchid Park Xem Thêm